Đất Và Người Bến Tre
Nguyễn
Thị Hậu
Bẵng
đi một thời gian dài tôi mới có dịp về
lại Bến Tre, nơi tôi từng thực tập khi là
sinh viên năm thứ hai. Hồi đó chúng tôi có nhiệm
vụ sưu tầm sử liệu thời kháng chiến và thường nói đùa với
nhau: Bến Tre nhiều phần “cách mạng” mà quá ít
phần “lịch sử”! Thời gian ấy các tỉnh
miền Tây Nam bộ đã phát hiện nhiều di chỉ
khảo cổ học thời tiền sử cũng như
di tích kiến trúc thời kỳ Văn hóa Oc Eo…vậy
nhưng hầu như không ai nghĩ rằng, Bến Tre
cũng có một giai đoạn lịch sử xa xưa
đến thế! “Khoảng trống” này trong lịch
sử Bến Tre chính là mối “cơ duyên” dẫn
đến những chuyến công tác của tôi vài năm
gần đây ở xứ dừa.
Bến
Tre nằm ở hạ lưu Tiền Giang, con sông ta gặp
“trước” khi đi từ miền Đông về
đồng bằng miền Tây Nam bộ. Tiền Giang là con
sông nhận đến 2/3 lưu lượng nước
sông Cửu Long và có lòng sâu hơn nên là con sông mang nhiều
nước và phù sa nhất. Còn cách biển chừng 100km
(ngang Vĩnh Long). Tiền Giang chia làm 2 nhánh là sông Mỹ Tho
và Cổ Chiên. Sông Mỹ Tho lại chia thành các con sông Hàm
Luông, Ba Lai, sông Cửa Tiểu, sông Cửa Đại.
Như vậy Tiền Giang đổ ra biển bằng 6 cửa từ Bắc
xuống Nam là Cửa Tiểu, Cửa Đại, cửa Ba
Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu
(nhưng nay cửa Ba Lai đã bị chặn dòng nên chỉ
còn “ngũ long”). Tiền Giang cũng như Hậu Giang
đều chịu tác động của chế độ
bán nhật triều mạnh mẽ của biển. Một
lượng phù sa rất lớn ở ven bờ
dưới tác động của sóng trên đáy biển
nông đã tạo thành các dạng tích tụ cồn cát ven
biển, nằm chắn song song với bờ biển.
Địa hình cơ bản khu vực này là những
đảo lớn nhỏ ở các cửa sông, kết
quả sự bồi tụ phù sa ở rìa châu thổ, mà ta
thường gọi là cồn, giồng hay cù lao… Bến Tre do hai cù lao lớn
hợp thành là Cù lao Bảo và cù lao Minh có sông Hàm Luông chảy
giữa. Ngay các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc và
một phần Long Xuyên cũng là những cù lao cực
lớn nằm giữa Tiền Giang và Hậu Giang.
Từ
trước đến nay công tác khảo cổ học
ở Bến Tre gần như không có gì vì một quan
niệm phổ biến: Đây là khu vực cồn cát
biển mới thành tạo khoảng 3 – 4000 ngàn năm nay,
vì vậy ít có khả năng tìm thấy những di tích
khảo cổ có niên đại sớm ở đây. Chính vì
vậy, trên bản đồ Khảo cổ học Nam
bộ khu vực miền Đông dày đặc các di tích
tiền sơ sử, miền Tây là trung tâm phân bố
của những di tích văn hóa Oc Eo, trong khi các tỉnh
liền kề như Long An, Tiền Giang, Trà Vinh từ lâu
đã phát hiện những di tích nổi tiếng thì Bến
Tre vẫn là một “vùng trắng” về khảo cổ
học. Vậy, phải chăng lịch sử Bến Tre
chỉ bắt đầu từ khi những lưu dân
người Việt, người Hoa vào khai phá từ
khoảng thế kỷ 17, 18 mà dấu tích để
lại là một số ngôi mộ cổ, những hũ
sành, gốm Sài Gòn, gốm Hoa… mà thi thoảng người
dân tìm thấy trong quá trình canh tác?
Từ
năm 2004 đến năm 2006 Viện Khảo cổ
học phối hợp với Bảo tàng Bến Tre đã
phát hiện, đào thám sát và 3
lần khai quật di chỉ
Giồng Nổi thuộc xã Bình Phú, thị xã
Bến Tre. Đây là một phát hiện vô cùng quan trọng,
được lãnh đạo Tỉnh và nhân dân Bến Tre
rất quan tâm cũng như
các nhà nghiên cứu ở Nam bộ và Trung ương rất
chú ý, bởi đây là di chỉ thời Tiền sử
đầu tiên được tìm thấy ở Bến Tre.
Trên diện tích khai quật khoảng 470 m2, tầng văn
hóa di tích chỉ dày khoảng 30 – 40cm song đã lưu
tồn nhiều dấu tích cư trú của người
xưa như tàn tích bếp lửa, bãi nung gốm, lỗ
cột nhà, những cụm gốm dày đặc… Số
lượng di vật thu thập được rất
phong phú và đa dạng: hàng trăm công cụ đồ
đá, hàng chục ngàn mảnh gốm và đồ
đất nung, công cụ bằng xương… Đặc
biệt số lượng di cốt động vật tìm
thấy ở đây lên đến hàng trăm kg với
nhiều giống loài trên cạn dưới nước như
heo, rùa, cá sấu, chim, chuột, rắn… Tổng thể
hiện vật ở di chỉ Giồng Nổi phản ánh
nội hàm văn hóa rất phong phú với nhiều biểu
hiện liên quan đến nhiều nền văn hóa
cổ: Công cụ đá mang truyền thống văn hóa
Đồng Nai, đồ gốm thể hiện mối
quan hệ với văn hoá Giồng Phệt khu vực ven
biển miền Đông Nam bộ và xa hơn, đồng
thời nhiều hiện vật được coi là
đặc trưng riêng biệt của Giồng Nổi nhưng
mang “yếu tố Oc Eo” như vòi ấm, nắp có núm
cầm… Giồng Nổi có niên
đại Cacbon phóng xạ C14 từ 2500 – 2000 năm cách
ngày nay, vì vậy di chỉ này được nhìn nhận
như là chứng tích của một trong những dòng
văn hóa – tộc người tham gia vào công cuộc
tạo lập nền văn hóa Oc Eo ở đồng
bằng Nam bộ vào những thế kỷ đầu Công
nguyên. Tại Long An Tự trên Cù lao Minh (huyện Mỏ Cày)
cán bộ Viện Khảo cổ học còn phát hiện
dấu tích lớp gạch xây của một kiến trúc
cổ, cùng với những
mảnh vòi ấm, hai trụ đá. Tại xã Phú Hưng
người dân phát hiện một pho tượng Phật
và một linga … Những dấu tích này được xác
định thuộc thời kỳ văn hóa Oc Eo.
Như
đã nói ở trên, địa hình Bến Tre cũng là quang
cảnh chung của vùng hạ châu thổ Cửu Long,
nơi toàn những đảo phù sa lớn nhỏ
được bao bọc bởi các sông chia nhánh ngày càng
tỏa rộng về phía biển. Vì vậy, đồng
bằng sông Cửu Long nói chung và khu vực Bến Tre nói
riêng thường được quan niệm là “vùng đất
mới”, kể từ sự có mặt của những
đoàn lưu dân người Việt, người Hoa khai
phá vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII về sau. Lịch
sử ghi nhận những đợt chuyển cư
từ miền ngoài, chủ yếu từ vùng Ngũ
Quảng, vào đất Đồng Nai Gia Định
diễn ra không ồ ạt nhưng tương đối
đều đặn và liên tục. Nương theo bờ
biển lưu dân vào miền đất mới theo hai con
đường chính: bằng ghe xuồng từ cửa Cần Giờ
ngược dòng Đồng Nai đến ngã ba Nhà Bè “ai
về Gia Định Đồng Nai thì về”, rồi
từ đó có thể theo sông rạch đổ về
miền Tây. Hoặc vào thẳng cửa sông Tiền như
cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược các
dòng sông lớn tiến sâu vào nội địa,
định cư trên giồng gò, cù lao, vùng đất cao
ráo hai bên bờ sông hoặc ven kinh rạch… Bến Tre đã
trở thành nơi lưu dân đi theo đường
biển đến định cư nhiều nhất,
từ những đoàn lưu dân tự phát gồm những
người cùng quê hương bản quán, cùng dòng họ,
theo quy luật “người đi trước
rước người đi sau”, đến những
đợt di dân do triều Nguyễn tổ chức “những
người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam,
Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá”
như Lê Quý Đôn
ghi chép trong Phủ biên tạp lục… Có thể
nhận thấy nguồn gốc dân cư Bến Tre ngày nay
đa số là từ miền Trung, nhất là từ phía Nam
đèo Hải Vân. Khảo sát gần đây về gia
phả, nhiều dòng họ ghi trong gia phả quê cũ
ở Bắc nhưng cần lưu ý: “bắc” ở đây
không mang nghĩa hai miền Nam Bắc như nay hiểu, mà
người Nam bộ căn cứ vào giọng nói, hễ
ai không nói tiếng Nam kỳ lục tỉnh thì đều
gọi là “người xứ Bắc”, không phân
biệt đó là người vùng Ngũ Quảng hay vùng
đồng bằng sông Hồng… Tuy nhiên, đến Bến
Tre cũng không có nghĩa là định cư lâu đời
ở đây mà vì kế sinh nhai, do hôn nhân, do chiến tranh hay
vì những lý do khác, nhiều gia đình đã di chuyển
hay phân tán đi những nơi khác. Như gia đình tôi
chẳng hạn, theo gia phả được ông nội
tôi cần mẫn ghi chép lại từ những năm
đầu thế kỷ XX, khi ấy ông khoảng ngoài ba
mươi tuổi, thì tổ
đời thứ nhất của dòng họ bên nội tôi
là hai ông bà sanh vào thế kỷ 18 ở Quy Nhơn hay
Nghệ An chưa rõ, bởi lánh nạn nên hai ông bà dắt
nhau chạy vào Nam kỳ. Lần hồi theo dòng Tiền
giang đến Cù Lao Giêng, trước là làng Mỹ Hưng
thuộc tổng An Bình tỉnh Châu Đốc, nay là làng
Mỹ Chánh huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Còn quê
ngoại tôi tuy ở xã Hoà An, thị xã Cao Lãnh tỉnh
Đồng Tháp, nhưng hàng năm vào dịp gần
tết, má tôi luôn cùng mấy cậu mấy dì về tảo
mộ Ông tổ bên ngoại tôi, nay là một gò mối
đùn rất lớn nằm bên cạnh ngôi chùa cổ thanh
vắng ở phường 2 thị xã Bến Tre. Theo
lời kể truyền lại thì ông cũng người
miền Trung vào lập nghiệp ở Bến Tre, sau này con
cháu ngược sông Tiền vào đến vùng Cao Lãnh ngày nay…
Địa
chí Bến Tre cho biết:
điều tra khảo sát từ 281 gia phả thành văn bao
gồm cả chữ Hán, Nôm và chữ quốc ngữ, qua
những câu chuyện kể không thành văn ở các
huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình
Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre, có
được kết quả như sau:
- Số
người định cư trước thế kỷ
XVIII: 3,6%
- Số
người định cư trong thế kỷ XVIII: 32,5%
- Số
người định cư trong thế kỷ XIX: 63,9%
Như
vậy, có thể nhận biết một thực trạng
là làn sóng di dân ồ ạt trong thế kỷ XIX nhiều
hơn hai thế kỷ trước. Về nguồn
gốc, trong 112 gia phả có nói đến xuất xứ
ghi nhận như sau: 18 gia đình gốc các tỉnh phía
Bắc từ Nghệ An trở ra(26%) , 26 gia đình gốc
từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên (23,2%), 68
gia đình gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
(50,8%). Cứ liệu khảo sát trên đây tuy chưa nhiều nhưng kết hợp
với các đặc điểm về phong tục tập
quán và vốn văn nghệ dân gian, vốn từ vựng
trong ngôn ngữ hàng ngày, cùng nhiều yếu tố văn
hóa vật chất… cũng giúp ta xác định nguồn
gốc dân cư Bến Tre. Từ nhiều nguồn
gốc, xuất xứ khác nhau, những người lưu
dân đã tìm được mảnh đất lành
để hội tụ tại dải đất ba cù lao
màu mỡ. Chính điều này đã góp phần hình thành, tích
lũy sự phong phú về kinh nghiệm và kiến thức
lao động sản xuất như trồng lúa, làm
muối, đánh bắt thủy hải sản, làm các
nghề thủ công cũng như sự đa dạng
về sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần
trong cộng đồng dân cư ở Bến Tre.
Đặc
biệt do vị trí địa lý thuận lợi, cư dân
Bến Tre đã phát triển nghề thương hồ
theo đường biển, đường sông. Từ
thế kỷ XVIII – XIX cảng thị Ba Vát (hay Ba Việt)
ở huyện Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc trù phú
của cù lao Minh. “Nơi đây phố xá liền lạc,
ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện
lỵ Tân An. Cách đó 15 dặm rưỡi sông Mỏ Cày
cũng có phố xá trù mật” như sách Gia
Định thành thông chí miêu tả. Hay như Đại
Nam nhất thống chí ghi nhận: “chợ Ba Vát
ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của
huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp
nập”. Nơi đây vào cuối thế kỷ XVIII
đã xảy ra những cuộc đụng độ ác
liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh nên bị tàn phá
nặng nề, dân chúng phân tán nhiều nơi, phải
mất đến vài thập kỷ mới khôi phục
được phần nào. Vào năm 2004 tại khu vực
này nhân dân đã đào được 2 hũ tiền kim
loại nặng đến hơn 100kg. Bảo tàng bến
Tre đã xác định được nhiều loại
tiền Việt Nam và Trung
Quốc niên đại từ thế kỷ
IX, X đến giữa thế kỷ XIX, trong đó
phần lớn là tiền thế kỷ XVII – giữa
thế kỷ XIX. Tại đây còn tìm thấy nhiều di
vật khác như một số lượng lớn
đồ đất nung, gốm sứ dân dụng của
Việt Nam và Trung Quốc
cùng niên đại trên, những di vật này phù hợp
với thời gian phồn thịnh của cảng thị
cổ Ba Vát. Một số địa điểm ở
thị xã và các huyện Ba Tri,
Mỏ Cày, Thạnh Phú… đã phát hiện những mảnh
gốm thô, hũ sành, gốm men màu, bình vôi, nhiều
loại đèn dầu bằng gốm có quai treo sử
dụng trên ghe xuồng hay có chân đế loe rộng
vững chãi dùng trên nhà sàn. Nhiều gia đình ở Bến
Tre nay vẫn còn lưu giữ những kỷ vật “ông bà
để lại” như đồ gốm gia dụng,
đôn chậu kiểng gốm Sài Gòn, chân đèn, lư
đồng, hoành phi câu đối cổ…
Thời
mở đất hơn 300 năm với biết bao công
sức trí tuệ, mồ hôi và cả máu của những
thế hệ lưu dân đổ xuống để
biến nơi rừng hoang đầm lầy đất
phèn mặn thành đồng ruộng, vườn
tược, xóm làng trù phú… Trong suốt những thế
kỷ ấy, người Bến Tre không chỉ phải
đấu tranh với thiên nhiên hoang sơ rừng thiêng
nước độc thú bầy mà còn phải chiến đấu
bảo vệ cuộc sống yên bình của mình, nhất là
trong buổi đầu chống thực dân Pháp . Câu
truyện về Ong già Ba Tri được lưu
truyền trong dân gian, vượt ra khỏi phạm vi
Bến Tre, trở thành hình tượng tiêu biểu cho người
Bến Tre và người Nam bộ: cương trực, tôn
trọng Đạo lý, chống lại cường
quyền bảo vệ sự thật. Bến Tre là vùng Địa
linh nhân kiệt , nơi đây gắn liền với tên
tuổi nhiều nhân vật lịch sử – văn hóa
của/ ở đất Bến Tre trong những thời
kỳ khác nhau, mà dấu ấn để lại là một
loại hình di tích đặc biệt: hệ thống
đền thờ – lăng mộ cổ đã
được cơ quan văn hóa của Tỉnh thống
kê, trong đó có nhiều Di tích cấp Quốc gia.
Những
khu mộ cổ ở Bến Tre nhìn chung mang đặc
diểm của loại hình mộ táng hợp chất cổ đặc trưng của
vùng Gia Định – Đồng Nai. Đó là hợp chất
các vật liệu vôi, cát, san hô, mật mía, nhựa cây ô
dước, cấu trúc hầm mộ thường trong quan
ngoài quách, phần mộ bên trên đắp nổi hình
khối chữ nhật, hình mu rùa hay hình vương
miện, có sân bia và tiền sảnh. Trang trí đơn
giản nhưng trang nghiêm, thể hiện sự lưu tâm
gìn giữ và bảo vệ của nhiều thế hệ
người Bến Tre. Có thể kể đến
đền thờ và khu mộ của một số danh nhân
tiêu biểu trong thế kỷ XIX – đầu thế
kỷ XX tại đất Bến Tre:
Võ Trường Toản:
Cụ hiệu Sùng Đức, quê ở huyện Bình
Dương phủ tân Bình (Gia Định). Là một
người học rộng tài cao, thông đạt kim
cổ, cụ có nhiều học trò nổi tiếng như Gia
Định tam gia thi gồm
Trịnh Hoài Đức (tác giả Gia Định thành thông
chí), Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định… Cụ mất
năm 1792. Sau Hoà ước Nhâm Tuất 1862 ba tỉnh
miền Đông Nam bộ rơi vào tay thực dân Pháp,
một số trí thức - học trò của cụ không
muốn di cốt cụ nằm lại ở vùng đất
bị giặc chiếm nên đã tổ chức di dời
hài cốt cụ về làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri,
tỉnh Bến Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh
Vĩnh Long, là vùng đất còn thuộc triều đình
nhà Nguyễn). Văn bia dựng tại mộ cụ Võ
trường Toản do Phan Thanh Giản soạn thảo.
Phan Thanh Giản
(1796 – 1867): Ông sinh tại làng Tân Thạnh huyện
Vĩnh Bình, phủ Định Viễn – Vĩnh Long, nay
thuộc tỉnh Bến Tre. Ong là vị Tiến sĩ
đầu tiên của Nam kỳ vào năm 1826, làm quan
trải qua 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự
Đức với nhiều chức vụ quan trọng.
Tháng 6 năm 1867, sau khi không giữ được thành
Vĩnh Long, ông tuyệt thực 17 ngày rồi uống
thuốc độc tự tử. Hai người con
của ông là Phan Liêm – Phan Tôn sau đó
đã thảo hịch, chiêu mộ hào kiệt Bến tre,
Vĩnh Long, Sa Đéc khởi nghĩa chống Pháp và hy sinh anh dũng. Lăng
mộ Phan Thanh Giản
và ảnh thờ hiện còn ở lành Bảo Thạnh,
huyện Ba Tri. Ngoài ra ông còn được thờ tại
Lăng Ong (Bà Chiểu, quận Bình Thạnh, TP.HCM), cùng
với Tả quân Lê
Văn Duyệt và Tổng trấn Bắc thành
Lê Chất.
Nguyễn Đình
Chiểu (1822 – 1888): Khi quân Pháp
chiếm thành Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu
về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc
nay thuộc tỉnh Long An. Khi ba tỉnh miền Đông
bị Pháp chiếm, Nguyễn Đình Chiểu rời
về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây nhà thơ tiếp
tục mở trường dạy học, bốc thuốc
chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp
đến cuối đời. Những tác phẩm nổi
tiếng của ông đã được sáng tác trong thời
kỳ này, nổi bật là bài Văn tế nghĩa
sĩ trận vong Lục tỉnh, tác phẩm Ngư
Tiều vấn đáp y thuật… Ong mất ngày 3/7/1888
hưởng thọ 66 tuổi.
Con
gái nhà thơ Nguyễn đình Chiểu – nữ sĩ
Sương Nguyệt Anh (1864 – 1921), tên là Nguyễn
Thị Ngọc Khuê. Bà thông thạo chữ Hán, chữ
quốc ngữ, từng là chủ bút tờ báo phụ
nữ đầu tiên ở Việt Nam là tờ Nữ
giới chung, xuất bản năm 1918. Bà còn là tác giả
nhiều bài thơ gửi gắm tâm sự yêu nước.
Khu mộ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và
vợ ông, bà Lê Thị
Điền, cùng nữ sĩ Sương Nguyệt Anh – hiện ở An Đức
huyện Ba Tri là một khu di tích gồm đền thờ,
khu lưu niệm.
Phan Văn Trị
(1830 – 1910): Ong sinh tại xã Thạnh Phú,
huyện Giồng Trôm. Ong là một sĩ phu, bạn văn
chương và có cùng chí hướng chống xâm
lược với Nguyễn Thông và Nguyễn Đình
Chiểu. Tác phẩm tiêu biểu của ông là những bài
hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu
hàng làm tay sai cho Pháp của Tôn Thọ Tường. Cuộc bút
chiến của ông đã lôi cuốn đông đảo
sĩ phu yêu nước Nam kỳ tham gia, có thể coi là
một trong những cuộc đấu tranh tư
tưởng lớn nhất trong lịch sử văn
học nước nhà.
Đền
kỷ niệm và Bia ký nhà bác học Trương
Vĩnh Ký (J.B.Petrus Ký, 1837 – 1898)
tại huyện Chợ Lách.
Ong sinh ở Cái Mơn xã Vĩnh Thành huyện Chợ Lách
trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Ong thông
thạo nhiều ngôn ngữ phương Tây và phương
Đông, là tác giả của hơn 100 tác phẩm trong đó
có nhiều công trình bằng chữ Pháp, quốc ngữ, biên
soạn nhiều bộ từ điển…Ong mất năm
1898 tại Chợ Quán, Sài Gòn. Lăng mộ ông bà Trương
Vĩnh Ký hiện còn tại quận 5,
TP.Hồ Chí Minh.
Bến
Tre còn là quê hương nhiều nhân vật lịch sử
Triều Nguyễn như Phó Tướng Trương Tấn
Bửu (1752 – 1827), Chánh binh Nguyễn Ngọc Thăng – Lãnh
Binh Thăng (1798 – 1866), ông Nghè Trương Gia Mô (1866 – 1929)…
Ngoài ra, theo Quốc Triều hương khoa lục,
vào thời Nguyễn đất Bến Tre có 31 nhà khoa
bảng, từ triều Gia Long năm thứ 12 (Quý Dậu
1813) đến triều Tự Đức năm thứ 17
(Giáp Tý 1864).
Rời
Bến Tre vào ngày cuối năm khi đất cù lao đang
hối hả khắc phục hậu quả của cơn
bão Durian. Tiễn tôi qua phà Rạch Miễu, ngắm nhìn cây
cầu dài nhất đồng bằng sông Cửu Long
đang vươn cao bước dài nối hai bờ
Tiền Giang, người chị Bến Tre thủ thỉ với tôi: Em à,
chị ước mong mai này, khi không còn bị “cô lập”
giữa sông biển như bây giờ, những nghề
thủ công truyền thống của Bến Tre như
sản xuất kẹo dừa, kẹo chuối, bánh
phồng, hàng mỹ nghệ bằng gỗ, lá và gáo dừa…
sẽ có điều kiện phát triển thành ngành công
nghiệp, đặc sản của “xứ dừa” sẽ cùng sản
phẩm những vùng miền khác trong cả nước
hội nhập vào thị trường quốc tế. Mai này,
đời sống người dân Bến Tre sẽ ngày càng
khấm khá, những mái nhà đơn sơ bằng cây
bằng lá sẽ được thay thế bằng hàng
chục ngàn, hàng trăm ngàn ngôi nhà vững chắc hơn
để không cơn bão nào có thể tàn phá được.
Và mỗi lần về lại Bến Tre, em vẫn
được hòa mình vào cuộc sống êm đềm
nhịp đờn ca tài tử trong những vườn dừa,
vườn trái cây xanh ngát…
Từ
lịch sử mở Đất với những bậc
Tiền Nhân như thế, chị ơi, em tin Bến Tre sẽ
thực hiện được mong ước giản
dị ấy trong một ngày không xa!
THAM
KHẢO
1
- Thạch Phương – Đoàn Tứ (chủ biên): Địa
chí Bến Tre. NXB KHXH, 2001.
2
- Tài liệu Hội thảo Khoa học: Di tích Giồng
Nổi và Khảo cổ học tỉnh Bến Tre. Sở
Văn hóa Thông tin Bến Tre và Viện Khảo cổ
học tổ chức tháng 12/2006.
(Nguồn: vanchuongviet.org)